Phân loại rác – giải pháp tiết kiệm và thông minh – may xu ly rac

Phân loại và xử lý rác thải hữu cơ bằng may xu ly rac ngay tại gia đình giúp cho việc xử lý và thải ra môi trường một lượng rác chỉ bằng 1/4 so với bình thường.

may-xu-ly-rac-thanks-sink-cong-nghe-phan-loai-xu-ly-rac-tai-gia-dinh-01 Phân loại rác ngay tại nhà giúp cho việc xử lý và tiêu hủy rác dễ dàng hơn – ảnh: mayxulyrac.com

Cùng với việc giảm thiểu tới 80% lượng rác hàng ngày, môi trường xung quanh bạn cũng sẽ được cải thiện một cách đáng kể và tiết kiệm được nhiều hơn thời gian xử lý, phân loại rác, cũng như đổ rác giúp bạn rảnh tay hơn vào các công việc gia đình khác.

may-xu-ly-rac-thanks-sink-cong-nghe-phan-loai-xu-ly-rac-tai-gia-dinh-02

May xu ly rac nhà bếp Thanks Sink ngày một thân thiện và tiện dụng với mỗi gia đình Việt Nam – ảnh: mayxulyrac.com

Dưới đây là phóng sự được thực hiện về thực trạng rác thải và kêu gọi ý thức phân loại rác và xử lý rác ngay tại gia đình sẽ giúp bạn nhận thức thêm nhiều hơn các vấn đề về rác, môi trường và cuộc sống xung quanh chúng ta.

Quy trình tư vấn và lắp đặt Máy xử lý rác Thanks Sink – may xu ly rac thanks sink

may-xu-ly-rac-hinh-hieu-ok

Quá trình tư vấn và lắp đặt hoàn toàn miễn phí khi bạn lựa chọn mua và sử dụng Máy xử lý rác nhà bếp Thanks Sink cho không gian nhà bếp hiện đại.

Tất cả các khâu từ Tư vấn – Lựa chọn sản phẩm – Bán hàng – Lắp đặt – Bảo hành đều được các nhân viên của Thanks Sink phục vụ nhiệt tình và nhanh chóng.

Chị Hải (khu Chung cư cao cấp Trung Hòa – Nhân Chính) sau khi lựa chọn sản phẩm Máy xử lý rác nhà bếp Thanks Sink đã được nhân viên của Công ty CP TM&DV VNT-Vina Thanks tới tận nhà để lắp đặt và tư vấn, hướng dẫn sử dụng may xu ly rac. “Nhân viên lắp đặt và tư vấn rất chuyên nghiệp, đã hướng dẫn cụ thể cho tôi cách thức sử dụng máy và còn tư vấn thêm về cách bảo dưỡng máy định kỳ. Trước khi lắp, tôi vẫn chưa hình dung được Máy xử lý rác nhà bếp Thanks Sink sẽ như thế nào, nhưng khi hoàn thiện, tôi cảm thấy, máy thực sự hòa nhập với không gian bếp hiện đại và sạch sẽ của gia đình!” – chị Hải chia sẻ.

Mời độc giả khám phá không gian nhà bếp hiện đại, thoáng mát của gia đình chị Hải qua quá trình lắp đặt Máy xử lý rác nhà bếp Thanks Sink:

may-xu-ly-rac-quy-trinh-tu-van-va-lap-dat-may-xu-ly-rac-thanks-sink-01

Trước khi quyết định cải tạo lại không gian nhà bếp của mình, chị Hải đã rất băn khoăn trong việc lựa chọn sản phẩm để giảm lượng rác thải, cũng như mùi hôi khó chịu trước đây – ảnh: mayxulyrac.com
may-xu-ly-rac-quy-trinh-tu-van-va-lap-dat-may-xu-ly-rac-thanks-sink-02

Tuy nhiên, sau khi tìm hiểu về tính năng cũng như đặc điểm ưu việt của mayxulyrac, chị đã quyết định lựa chọn cho không gian nhà bếp của mình ảnh: mayxulyrac.commay-xu-ly-rac-quy-trinh-tu-van-va-lap-dat-may-xu-ly-rac-thanks-sink-03

Nhân viên lắp đặt của VNT – Vina Thanks đang kiểm tra thiết bị trước khi tiến hành lắp máy ảnh: mayxulyrac.commay-xu-ly-rac-quy-trinh-tu-van-va-lap-dat-may-xu-ly-rac-thanks-sink-04

Hầu như đã được tối ưu hoàn toàn với không gian nhà bếp Việt, Máy xử lý rác Thanks Sink với các thiết bị và phụ kiện sẽ được tích hợp một cách khéo léo với các phụ kiện nhà bếp, làm cho nhà bếp của bạn sang trọng, sạch sẽ và trang nhã hơn – ảnh: mayxulyrac.com
may-xu-ly-rac-quy-trinh-tu-van-va-lap-dat-may-xu-ly-rac-thanks-sink-05

Trong quá trình lắp đặt máy xử lý rác, nhân viên kỹ thuật sẽ tư vấn cho bạn cách giữ gìn và vệ sinh bảo quản không gian nhà bếp sao cho sạch sẽ, gọn gàng và đảm bảo vệ sinh hơn ảnh: mayxulyrac.commay-xu-ly-rac-quy-trinh-tu-van-va-lap-dat-may-xu-ly-rac-thanks-sink-06

Những khớp nối, phụ kiện của may xu ly rac đã được nghiên cứu và tối ưu hóa với hầu hết không gian nhà bếp của các gia đình Việt Nam. Tuy nhiên, với một số không gian nhà bếp hiện đại, nhân viên của VNT – Vina Thanks sẽ tới khảo sát và đo đạc để lấy số liệu trước khi tiến hành lắp đặt nhằm đảm bảo đúng các chỉ số kỹ thuật tiêu chuẩn ảnh: mayxulyrac.commay-xu-ly-rac-quy-trinh-tu-van-va-lap-dat-may-xu-ly-rac-thanks-sink-07

Các chi tiết được thiết kế trang nhã, bền và an toàn với người sử dụng ảnh: mayxulyrac.commay-xu-ly-rac-quy-trinh-tu-van-va-lap-dat-may-xu-ly-rac-thanks-sink-08

Máy xử lý rác nhà bếp thanks sink trước khi được lắp đặt vào phía dưới bồn rửa ảnh: mayxulyrac.commay-xu-ly-rac-quy-trinh-tu-van-va-lap-dat-may-xu-ly-rac-thanks-sink-09

Bạn hoàn toàn có thể yên tâm về chất lượng cũng như dịch vụ khi lựa chọn lắp đặt máy xử lý rác … ảnh: mayxulyrac.commay-xu-ly-rac-quy-trinh-tu-van-va-lap-dat-may-xu-ly-rac-thanks-sink-10
Máy xử lý rác nhà bếp Thanks Sink có chế độ bảo hành trọn đời và cam kết 1 đổi 1 cho những sản phẩm lỗi ảnh: mayxulyrac.com

wxongsJLike và Click đặt mua ngay tại:

Website: http://mayxulyrac.com/

Fanpage: https://www.facebook.com/mayxulyrac/


CÔNG TY CỔ PHẦN THƯƠNG MẠI VÀ DỊCH VỤ VNT – VINA THANKS

Đ/c: Số 26 đường số 4 (Lê Đức Thọ), P7 – Gò Vấp – Tp.HCM
       Số 3 ngõ 123 Hoàng Quốc Việt – Cầu Giấy – Hà nội
Tel: (84.3)3756.0548 * Hotline: +84.91.880.2484
Tư vấn mua hàng: +84.98.398.1221

CÔNG TY CỔ PHẦN THƯƠNG MẠI & DỊCH VỤ VNT-VINA THANKS – MÁY XỬ LÝ RÁC NHÀ BẾP THANKS SINKS

MÁY XỬ LÝ RÁC NHÀ BẾP THANKS SINK

may-xu-ly-rac-hinh-hieu-ok

ĐẶC ĐIỂM: Nhỏ, gọn, tiện lợi, an toàn và dễ dàng sử dụng, máy xử lý rác Thanks Sink đảm bảo cho nhà bếp của bạn luôn sạch sẽ, gọn gàng và an toàn nhất!

mayxulyrac-thong-so-ky-thuat

LẮP ĐẶT

mayxulyrac-tai-sao-nen-dung-may-xu-ly-rac05

Máy được lắp đặt và vận hành an toàn, đơn giản – ảnh: mayxulyrac.com

Máy được lắp đặt trực tiếp dưới bồn rửa giúp thuận tiện cho việc xử lý rác thải hữu cơ trong quá trình làm bếp hàng ngày của mọi gia đình (vỏ trứng, rau, thịt, xương, bã chè,…).

Button-dat-hang


MÁY XỬ LÝ RÁC NHÀ BẾP GIÚP BẠN LOẠI BỎ NGAY CÁC VẤN ĐỀ VỀ:

  1. Rác hữu cơ trong quá trình nấu nướng
  2. Không còn lo tắc đường ống xả nước thải
  3. Ruồi, muỗi, gián, chuột
  4. Mùi hôi khó chịu từ rác thải lưu cữu trong nhà bếp
  5. Giảm thiểu tới 3/4 lượng rác thải hàng ngày của gia đình bạn!

tacdung

Ngoài ra, máy xử lý rác nhà bếp còn giúp bạn tiết kiệm một khoảng thời gian đáng kể hàng ngày để dành cho các công việc khác và chăm sóc gia đình!

Quá trình lắp đặt và bảo dưỡng Máy xử lý rác nhà bếp Thanks Sink tại hộ gia đình


BẠN SẼ NHẬN ĐƯỢC NGAY NHỮNG ƯU ĐÃI HẤP DẪN KHI MUA MÁY XỬ LÝ RÁC NHÀ BẾP

mien-phi-giao-hang lap dat

wxongsJ

ĐẶC BIỆT, CHẾ ĐỘ BẢO HÀNH TRỌN ĐỜI CHO MỖI

CHIẾC MÁY XỬ LÝ RÁC NHÀ BẾP THANKS SINK

___________________________________________________________________

CÔNG TY CỔ PHẦN THƯƠNG MẠI VÀ DỊCH VỤ VNT – VINA THANKS
Đ/c: Số 26 đường số 4 (Lê Đức Thọ), P7 – Gò Vấp – Tp.HCM
       Số 3 ngõ 123 Hoàng Quốc Việt – Cầu Giấy – Hà nội
Tel: (84.3)3756.0548 * Hotline: +84.91.880.2484
Tư vấn mua hàng: +84.98.398.1221

button-vn

 

 

 

Giải pháp phân loại, xử lý rác thải sinh hoạt

  1. Giải pháp phân loại rác thải sinh hoạt

Trình độ nhận thức của người dân tại KVNC chưa cao, họ chưa phân biệt được rác hữu cơ, rác vô cơ và cũng chưa tiến hành phân loại chúng. Đề tài đề xuất giải pháp phân loại CTRSH nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho công tác thu gom, tái sử dụng, tái chế và lựa chọn giải pháp xử lý cho phù hợp với từng loại chất thải sau này, được thể hiện cụ thể trong bảng 1.

Bảng 1: Phân loại rác thải sinh hoạt

Loại Nguồn gốc Ví dụ
1.  Rác hữu cơ –  Các vật liệu làm từ giấy –       Các túi giấy, giấy bìa, giấy vệ sinh
–  Có nguồn gốc từ các sợi –       Vải, len,…
–  Thực phẩm thừa đã qua sử dụng –       Vỏ rau củ quả, thức ăn…
2.     Rác vô cơ –  Các loại sản phẩm, vật liệu được chế tạo từ sắt –       Vỏ hộp, hàng rào,…
–  Các vật liệu, sản phẩm làm bằng thủy tinh –       Chai, lọ, bóngđèn,…
–  Các vật liệu không cháy ngoài kim loại, thủy tinh –       Gạch, gốm, sứ 
  1. Giải pháp xử lý rác thải sinh hoạt

2.1. Làm phân hữu cơ

  • Chuẩn bị: Thu gom rác hữu cơ hàng ngày (vỏ rau, củ, quả, thực phẩm thừa…), thùng xốp, chế phẩm sinh học E.M2, tro trấu, máy xử lý rác.
  • Cách pha chế phẩm: Dung dịch thứ cấp E.M (E.M2)

– Là chế phẩm được dùng quá trình thí nghiệm của đề tài, chế phẩm này được sản xuất tại “Xưởng thực nghiệm sinh học, tổ 23, Phường Thịnh Đán, Thành Phố Thái Nguyên”. Dung dịch E.M2 là dung dịch được lên men từ E.M1, rỉ đường và nước chế phẩm mua về ở dạng nước đậm đặc cần phải pha loãng. Cứ 20kg rác hữu cơ cần dùng 1 lít chế phẩm sinh học pha loãng trong 40 lít nước.

Quy trình làm phân bón:

       mayxulyrac-giai-phap-phan-loai-xu-ly-rac-thai-sinh-hoat08

Quy trình làm phân bón hữu cơ từ rác thải sinh hoạt – ảnh: mayxulyrac.com

Lượng rác hữu cơ trong ngày của hộ gia đình được thu gom lại có khối lượng khoảng 2kg. Băm chặt rác thành từng khúc có kích thước từ 5 – 7cm.

mayxulyrac-giai-phap-phan-loai-xu-ly-rac-thai-sinh-hoat07

Quá trình ủ phân hữu cơ để sử dụng cho việc bón và trồng cây tại nhà rất đơn giản và dễ thực hiện – ảnh: mayxulyrac.com

Thùng xốp chứa rác được đục lỗ xung quanh và dưới đáy tránh nước rác ứ đọng trong thùng.

mayxulyrac-giai-phap-phan-loai-xu-ly-rac-thai-sinh-hoat02

Phân hữu cơ sau khi ủ sẽ được trộn với đất để trồng cây – ảnh: mayxulyrac.com

Rác sau khi được xử lý bằng máy xử lý rác, nghiền nhỏ thành bột sẽ được bỏ vào thùng xốp, tưới đều chế phẩm sinh học đã pha chế lên lớp rác đó. Tiếp theo rải một lớp mỏng tro trấu dày khoảng 2,0cm lên phía trên. Dùng túi nilon bịt kín thùng xốp. Hàng ngày cho tiếp tục bổ sung rác hữu cơ vào thùng xốp này, tưới chế phẩm, rải tro trấu. Tiếp tục làm tương tự như các bước trên trong vòng 10 ngày khi khối lượng rác trong thùng đạt 20kg thì không bổ sung thêm rác nữa. Bịt kín thùng xốp để ủ. Sau 20 ngày tiến hành đảo trộn (thêm nước nếu lượng rác quá khô). Rác hữu cơ phân hủy trở thành phân vi sinh sau 35 – 40 ngày. Lấy phân rác ra và sử dụng cho các mục đích khác nhau (trồng rau, cây cảnh,…). Tỷ lệ chế phẩm, tro trấu thêm vào hàng ngày được thống kê ở bảng 2.

Bảng 2: Tỷ lệ rác, chế phẩm và tro trấu bổ sung theo ngày

Thời gian Lượng rác (kg) Lượng chế phẩm pha loãng  (lít) Bề dày lớp tro trấu (cm)
Ngày thứ nhất 2,0 1,5 2,0
Ngày thứ hai 2,0 2,0 2,0
Ngày thứ ba 2,0 2,5 2,0
Ngày thứ tư 2,0 3,0 2,0
Ngày thứ năm 2,0 3,5 2,0
Ngày thứ sáu 2,0 4,0 2,0
Ngày thứ bảy 2,0 4,5 2,0
Ngày thứ tám 2,0 5,0 2,0
Ngày thứ chín 2,0 5,5 2,0
Ngày thứ mười 2,0 6,0 2,0

Việc tăng tỷ lệ chế phẩm, tro trấu qua từng ngày nhằm mục đích giúp lượng rác hữu cơ trong thùng xốp bổ sung ở những ngày tiếp theo phân hủy nhanh hơn, kịp với tốc độ phân hủy rác của lượng rác được bổ sung những ngày trước đó.

Lưu ý: Trong quá trình ủ phân sẽ tạo ra khí gas. Khí gas sẽ xuất hiện sau khoảng 1 tuần, nên khi mở nắp thùng, cần đeo khẩu trang.

mayxulyrac-giai-phap-phan-loai-xu-ly-rac-thai-sinh-hoat03

Máy xử lý rác sẽ nghiền nhỏ những loại rác hữu cơ như thức ăn thừa, thịt, xương, cá, cuộng rau trong quá trình làm bếp. Sau đó, phần bột sẽ được tác riêng ra để ủ và làm phân bón cây cảnh hoặc những loại rau tự trồng tại nhà – ảnh: mayxulyrac.com

Trong quá trình ủ phân, nếu thấy rác quá khô, cần phun thêm nước, tạo độ ẩm khoảng 50 – 60% sẽ tạo điều kiện cho vi sinh vật phát triển, dễ dàng phân hủy chất hữu cơ.

2.2. Tái sử dụng, tái chế rác thải sinh hoạt

  1. Tái sử dụng: Là việc sử dụng lại các sản phẩm, hay một phần của sản phẩm cho chính mục đích cũ, hay cho một mục đích khác, sử dụng một sản phẩm nhiều lần cho đến hết tuổi thọ sản phẩm.

mayxulyrac-giai-phap-phan-loai-xu-ly-rac-thai-sinh-hoat06

Việc tái chế lại các loại rác hữu cơ và vô cơ sẽ làm giảm quá trình phân loại và thu gom rác – ảnh: mayxulyrac.com

Việc tái sử dụng các đồ dùng đã được sử dụng qua một lần là việc đơn giản và dễ thực hiện đối với người dân. Đề tài đề xuất các giải pháp tái sử dụng CTRSH tại bảng 3.

Bên cạnh những loại rác thải hữu cơ có thể sử dụng máy xử lý rác nhà bếp để nghiền ra và ủ làm phân bón, các loại rác thải khó phân hủy hoặc máy xử lý rác không thể nghiền được sẽ được đem phân loại để sử dụng vào các mục đích khác.

mayxulyrac-giai-phap-phan-loai-xu-ly-rac-thai-sinh-hoat01

Các sản phẩm rác tái chế thực sự rất hữu ích cho cuộc sống của con người – ảnh: mayxulyrac.com

Bảng 3: Một số giải pháp tái sử dụng CTRSH

Chất thải Giải pháp tái sử dụng
–       Chai, lọ nhựa –       Làm chai đựng nước uống, lọ đựng gia vị.
–        Chai, lọ thủy tinh –       Làm chai đựng nước mắm, dầu ăn, rượu, mật ong,…
–       Túi nilon –       Rửa sạch, phơi khô dùng để làm túi đựng rác (không sử dụng lại túi nilon đựng đồ tươi sống như túi đựng: thịt, cá, tôm, cua,…)
–       Hộp caton –       Đựng chăn màn, quần áo, giầy dép…
–       Hộp xốp –       Dùng để trồng cây,…
–       Vỏ hộp bánh kẹo, vỏ hộp kem đánh răng –       Làm hộp gói quà sinh nhật.
–       Giấy báo cũ –       Vò nhàu các tờ giấy báo, sau đó cho vào đôi giầy để bảo quản chúng khi không sử dụng trong thời gian dài. Việc làm này sẽ giúp giầy không bị ẩm mốc, tăng thời gian sử dụng cho những đôi giầy.
–       Bã trà –       Đổ vào gốc các cây cảnh sẽ giúp cây phát triển tốt hơn.
–       Bã cà phê –       Cho vào tủ lạnh sẽ giúp khử mùi hôi trong tủ do thức ăn gây ra.
  1. Một số lợi ích từ quá trình phân loại rác và xử lý rác
  • Lợi ích từ quá trình phân loại rác:

+ Giúp cho việc xử lý rác dễ dàng hơn.

+ Giảm tác động môi trường do đổ thải gây ra, tiết kiệm diện tích chôn lấp.

+ Sự tham gia của dân cư tại ba tổ trong đề tài này sẽ góp phần nâng cao nhận thức của người dân trong việc phân loại rác vừa đem lại lợi ích cho cá nhân vừa đem lại lợi ích cho cộng đồng trong việc bảo vệ môi trường.

+ Việc phân loại rác sau đó tái sử dụng và tái chế sẽ giúp người dân giảm chi phí thu gom và xử lý rác.

mayxulyrac-giai-phap-phan-loai-xu-ly-rac-thai-sinh-hoat05

  • Lợi ích từ việc xử lý rác:

+ Quá trình làm phân bón từ rác hữu cơ giúp người dân biết cách tận dụng nguồn rác của gia đình mình để tạo ra những sản phẩm có ích, tiết kiệm chi phí, an toàn và thân thiện với môi trường. Lợi ích tính đơn thuần cho việc tạo ra phân bón không nhiều, nhưng nếu tính chi phí thu gom, vận chuyển, xử lý rác, xây dựng bãi rác thải… thì việc tận dụng rác từ nhiều hộ gia đình, cơ quan, xí nghiệp sẽ làm giảm đáng kể kinh phí của Nhà nước và còn góp phần làm sạch đẹp môi trường xung quanh KVNC. Với việc sử dụng máy xử lý rác nhà bếp, vừa nhỏ gọn, dễ lắp đặt, an toàn sử dụng sẽ một phần giúp cho bước đầu phân loại và xử lý rác ngay tại từng hộ gia đình một cách hiệu quả.

Theo tính toán của đề tài: Cứ 20kg chất thải tiêu tốn hết 1 lít chế phẩm (có giá bán trên thị trường là 4.000 đồng/lít). Sau khi ủ lượng phân rác thành phẩm có khối lượng 4kg. Trong khi phân bón vi sinh có giá bán trên thị trường là 3.800 đồng/kg. Một bao phân lân vi sinh có khối lượng 25kg có giá là 95.000 đồng.

Từ tính toán như trên cho thấy, nếu tận dụng rác hữu cơ làm phân bón, chỉ với khoảng 125kg chất thải với 6,25 lít chế phẩm (tương đương với giá 25.000 đồng). Sau khi ủ lượng rác thành phẩm sẽ đạt 25kg bằng khối lượng của một bao phân vi sinh bán ngoài thị trường. Như vậy, việc làm phâm bón từ rác sẽ giúp giảm gần 4 lần chi phí cho các hộ gia đình so với việc mua phân trên thị trường.

mayxulyrac-giai-phap-phan-loai-xu-ly-rac-thai-sinh-hoat04

Những chiếc máy xử lý rác to, nặng, cồng kềnh và đắt tiền như thế này sẽ được thay thế bằng máy xử lý rác nhà bếp nhỏ gọn được lắp đặt tại nhà, giúp cải thiện thời gian thu gom rác và phân loại rác dễ dàng hơn – ảnh: mayxulyrac.com

+ Nếu thành lập đội thu gom phần rác còn lại tại KVNC vừa tạo thêm việc làm cho người dân trong phường (chỉ tham gia thu gom rác 8 lần/tháng) với thu nhập trung bình từ 450.000 – 675.000 đồng/người/tháng vừa giúp rác của các hộ gia đình được thu gom hợp lý với chi phí thấp, giảm sức ép đối với môi trường.

+ Việc hướng dẫn các em nhỏ làm đồ tái chế vừa giúp các em thể hiện khả năng khéo léo, sáng tạo của mình, tránh lãng phí nguồn tài nguyên vừa giúp các em hiểu và biết quý trọng những gì mình và người khác làm ra. Từ đó, các em sẽ có ý thức hơn trong việc sử dụng nguồn tài nguyên từ rác.

+ Tái sử dụng CTR giúp tiết kiệm chi phí xử lý chất thải.

Phân loại chất thải sinh hoạt tại nguồn, tái chế và tái sử dụng là giải pháp có ý nghĩa kinh tế, xã hội và môi trường ở các đô thị

Bài của GS.TS. Lê Văn Khoa, Tr­ường Đại học khoa học Tự nhiên – ĐHQGHN.

GS.TS. Lê Văn Khoa

Tr­ường Đại học khoa học Tự nhiên- ĐHQGHN.

  1. Khái niệm về rác thải

Tại khoản 10 Điều 3 của Luật bảo vệ môi trường 2005 thì: “Chất thải là vật chất ở thể rắn, lỏng, khí được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc hoạt động khác”. Như vậy, rác thải là tất cả những thứ vật chất từ đồ ăn, đồ dùng, chất phế thải sản xuất, dịch vụ, y tế, … mà mọi người không dùng nữa và thải bỏ đi.

Rác thải sinh hoạt ( chất thải rắn sinh hoạt) sinh ra từ mọi người và mọi nơi: Gia đình, trường học, chợ, nơi mua bán, nơi công cộng, nơi vui chơi giải trí, cơ sở y tế, cơ sở sản xuất kinh doanh, bến xe, bến đò,…

Rác thường được chia thành ba nhóm sau:

  1. Rác khô hay còn gọi là rác vô cơ: gồm các loại phế thải thuỷ tinh, sành sứ, kim loại, giấy, cao su, nhựa, vải, đồ điện, đồ chơi, cát sỏi, vật liệu xây dựng…
  2. Rác ướt hay thường gọi là rác hữu cơ: gồm cây cỏ loại bỏ, lá rụng, rau quả hư hỏng, đồ ăn thừa, rác nhà bếp, xác súc vật, phân động vật.
  3. Chất thải nguy hại (CTNH): là những thứ phế thải rất độc hại cho môi trường và con người như pin, bình ắc quy, hoá chất, thuốc trừ sâu, bom đạn, rác thải y tế, rác thải điện tử…

II.Tác động của rác thải sinh hoạt đến môi trường và sức khỏe cộng đồng

Rác khi thải vào môi trường gây ô nhiễm, đất, nước, không khí. Ngoài ra, rác thải còn làm mất vệ sinh công cộng, làm mất mỹ quan môi trường. Rác thải là nơi trú ngụ và phát triển lý tưởng của các loài gây bệnh hại cho người và gia súc.

Rác thải ảnh hưởng tới môi trường nhiều hay ít còn phụ thuộc vào nền kinh tế của từng quốc gia, khả năng thu gom và xử lý rác thải, mức độ hiểu biết và trình độ giác ngộ của mỗi người dân. Khi xã hội phát triển cao, rác thải không những được hiểu là có ảnh hưởng xấu tới môi trường mà còn được hiểu là một nguồn nguyên liệu mới có ích nếu chúng ta biết cách phân loại chúng, sử dụng theo từng loại.

2.1. Ảnh hưởng đến môi trường không khí: Nguồn rác thải từ các hộ gia đình thường là các loại thực phẩm chiếm tỷ lệ cao trong toàn bộ khối lượng rác thải ra. Khí hậu nhiệt đới nóng ẩm và mưa nhiều ở nước ta là điều kiện thuận lợi cho các thành phần hữu cơ phân huỷ, thúc đẩy nhanh quá trình lên men, thối rữa và tạo nên mùi khó chịu cho con người. Các chất thải khí phát ra từ các quá trình này thường là H2S, NH3, CH4, SO2, CO2.

2.2. Ảnh hưởng của rác thải tới môi trường nước: Theo thói quen nhiều người thường đổ rác tại bờ sông, hồ, ao, cống rãnh. Lượng rác này sau khi bị phân huỷ sẽ tác động trực tiếp và gián tiếp đến chất lượng nước mặt, nước ngầm trong khu vực. Rác có thể bị cuốn trôi theo nước mưa xuống ao, hồ, sông, ngòi, kênh rạch, sẽ làm nguồn nước mặt ở đây bị nhiễm bẩn .

Mặt khác, lâu dần những đống rác này sẽ làm giảm diện tích ao hồ, giảm khả năng tự làm sạch của nước gây cản trở các dòng chảy, tắc cống rãnh thoát nước. Hậu quả của hiện tượng này là hệ sinh thái nước trong các ao hồ bị huỷ diệt . Việc ô nhiễm các nguồn nước mặt này cũng là một trong những nguyên nhân gây các bệnh tiêu chảy, tả, lỵ trực khuẩn thương hàn,ảnh hưởng tiêu cực đến sức khoẻ cộng đồng

2.3. Ảnh hưởng của rác thải tới môi trường đất: Trong thành phần rác thải có chứa nhiều các chất độc, do đó khi rác thải được đưa vào môi trường thì các chất độc xâm nhập vào đất sẽ tiêu diệt nhiều loài sinh vật có ích cho đất như: giun, vi sinh vật, nhiều loài động vật không xương sống, ếch nhái … làm cho môi trường đất bị giảm tính đa dạng sinh học và phát sinh nhiều sâu bọ phá hoại cây trồng. Đặc biệt hiện nay sử dụng tràn lan các loại túi nilôn trong sinh hoạt và đời sống, khi xâm nhập vào đất cần tới 50 – 60 năm mới phân huỷ hết và do đó chúng tạo thành các “bức tường ngăn cách” trong đất hạn chế mạnh đến quá trình phân huỷ, tổng hợp các chất dinh dưỡng, làm cho đất giảm độ phì nhiêu, đất bị chua và năng suất cây trồng giảm sút .

tinmoitruong-DaNang

2.4. Ảnh hưởng của rác thải đối với sức khoẻ con người: Trong thành phần rác thải sinh hoạt, thông thường hàm lượng hữu chiếm tỉ lệ lớn. Loại rác này rất dễ bị phân huỷ, lên men, bốc mùi hôi thối. Rác thải không được thu gom, tồn đọng trong không khí, lâu ngày sẽ ảnh hưởng đến sức khoẻ con người sống xung quanh. Chẳng hạn, những người tiếp xúc thường xuyên với rác như những người làm công việc thu nhặt các phế liệu từ bãi rác dễ mắc các bệnh như viêm phổi, sốt rét, các bệnh về mắt, tai, mũi họng, ngoài da, phụ khoa. Hàng năm, theo tổ chức Y tế thế giới, trên thế giới có 5 triệu người chết và có gần 40 triệu trẻ em mắc các bệnh có liên quan tới rác thải. Nhiều tài liệu trong nước và quốc tế cho thấy, những xác động vật bị thối rữa trong hơi thối có chất amin và các chất dẫn xuất sufua hyđro hình thành từ sự phân huỷ rác thải kích thích sự hô hấp của con người, kích thích nhịp tim đập nhanh gây ảnh hưởng xấu đối với những người mắc bệnh tim mạch.

Các bãi rác công cộng là những nguồn mang dịch bệnh. Các kết quả nghiên cứu cho thấy rằng: trong các bãi rác, vi khuẩn thương hàn có thể tồn tại trong 15 ngày, vi khuẩn lỵ là 40 ngày, trứng giun đũa là 300 ngày.Các loại vi trùng gây bệnh thực sự phát huy tác dụng khi có các vật chủ trung gian gây bệnh tồn tại trong các bãi rác như những ổ chứa chuột, ruồi, muỗi… và nhiều loại ký sinh trùng gây bệnh cho người và gia súc, một số bệnh điển hình do các trung gian truyền bệnh như:Chuột truyền bệnh dịch hạch, bệnh sốt vàng da do xoắn trùng.ruồi, gián truyền bệnh đường tiêu hoá ;muỗi truyền bệnh sốt rét, sốt xuất huyết…

III. Kinh nghiệm phân loại và xử lý chất thải rắn sinh hoạt trên thế giới làm phân bón

Công nghệ xử lý CTR trên thế giới hiện nay có rất nhiều phương pháp, trong đó các phương pháp truyền thống vẫn tiếp tục được sử dụng như:

– Công nghệ chôn lấp chất thải.

– Công nghệ thiêu đốt.

– Những năm gần đây, công nghệ phân loại rác tại nguồn và chế biến rác thải hữu cơ làm phân compost ((phân ủ ) phát triển rất mạnh.Đây là công nghệ phổ biến nhất trên thế giới hiện nay, nhằm tái chế, tái sử dụng chất thải, góp phần giảm thiểu lượng phát sinh chất thải rắn và BVMT. Những bài học về thu gom và xử lý CTR trên thế giới có rất nhiều. Ví dụ: ở Châu Âu, nhiều quốc gia đã thực hiện quản lý chất thải thông qua phân loại chất thải rắn tại nguồn và xử lý tốt, đạt hiệu quả cao về kinh tế và MT. Tại các quốc gia như Đan Mạch, Anh, Hà lan, Đức, việc quản lý chất thải được thực hiện rất chặt chẽ công tác phân loại và thu gom rác đã trở thành nề nếp và người dân chấp hành rất nghiêm quy định này. Các loại rác thải có thể tái chế được như giấy loại, chai lọ thuỷ tinh, vỏ đồ hộp… được thu gom vào các thùng chứa riêng. Đặc biệt rác thải nhà bếp có thành phần hữu cơ dễ phân huỷ được yêu cầu phân loại riêng đựng vào các túi có màu sắc theo đúng quy định thu gom hàng ngày để đưa đến nhà máy chế biến phân compost ( phân ủ). Đối với các loại rác bao bì có thể tái chế, người dân mang đến thùng rác đặt cố định trong khu dân cư.

Ở Nhật Bản, trong 37 Đạo luật về BVMT có 7 Đạo luật về quản lý và tái chế CTR. Việc phân loại rác tại nguồn đã được triển khai từ những năm 1970. Tỷ lệ tái chế CTR ở Nhật Bản đạt rất cao. Hiện nay tại các thành phố của Nhật chủ yếu sử dụng công nghệ đốt để xử lý phần rác khó phân huỷ. Các hộ gia đình được yêu cầu phân loại rác thành 3 dòng:

– Rác hữu cơ dễ phân huỷ để làm phân hữu cơ vi sinh, được thu gom hàng ngày đưa đến nhà máy chế biến.

– Rác vô cơ gồm các loại vỏ chai,hộp đưa đến nhà máy để phân loại, tái chế.

– Loại rác khó tái chế, hiệu quả không cao nhưng cháy được sẽ đưa đến nhà máy đốt rác thu hồi năng lượng. Các loại rác này được yêu cầu đựng riêng trong những túi có màu sắc khác nhau và các hộ gia đình tự mang ra điểm tập kết rác của cụm dân cư vào các giờ quy định dưới sự giám sát của đại diện cụm dân cư.

Ở Hàn Quốc, cách quản lý chất thải giống với Nhật Bản, nhưng cách xử lý lại giống ở Đức. Rác hữu cơ nhà bếp một phần được sử dụng làm giá thể nuôi trồng nấm thực phẩm, phần lớn hơn được chôn lấp có kiểm soát để thu hồi khí biôga cung cấp cho phát điện. Sau khi rác tại hố chôn phân huỷ hết, tiến hành khai thác mùn ở bãi chôn làm phân bón. Như vậy, tại các nước phát triển việc phân loại rác tại nguồn đã được tiến hành cách đây khoảng 30 năm và đến nay cơ bản đã thành công trong việc tách rác thành 2 dòng hữu cơ dễ phân huỷ được thu gom xử lý hàng ngày, rác khó phân huỷ có thể tái chế hoặc đốt, chôn lấp an toàn được thu gom hàng tuần.

moitruong_taicheracthai

Tại Đông Nam Á, Singapo đã thành công trong quản lý CTR để BVMT. Chính phủ Singapo đang yêu cầu tăng tỷ lệ tái chế thông qua phân loại rác tại nguồn từ các hộ gia đình, các chợ, các cơ sở kinh doanh để giảm chi ngân sách cho Nhà nước. Các quốc gia còn lại đang trong quá trình tìm kiếm hoặc triển khai mới mô hình quản lý CTR. Tại Bangkok, việc phân loại rác tại nguồn chỉ mới thực hiện được tại một số trường học và một số quận trung tâm để tách ra một số loại bao bì dễ tái chế, lượng rác còn lại vẫn đang phải chôn lấp, tuy nhiên được ép chặt để giảm thể tích và cuốn nilon rất kỹ xung quanh mỗi khối rác để giảm bớt ô nhiễm. Một số công nghệ tái chế rác thải làm phân bón ở các nước như sau:

3.1. Công nghệ xử lý rác thải sinh hoạt của Mỹ – Canađa

a/. Nội dung công nghệ: ở các vùng của Mỹ và Canađa có khí hậu ôn đới thường áp dụng phương pháp xử lý rác thải ủ đống tĩnh có đảo trộn như sau: Rác thải được tiếp nhận và tiến hành phân loại. Rác thải hữu cơ được nghiền và bổ sung vi sinh vật, trộn với bùn và đánh đống ở ngoài trời. Chất thải được lên men từ 8-10 tuần lễ, sau đú sàng lọc và đúng bao ( hình 1 ).

b, Ưu điểm: (i)Thu hồi được sản phẩm làm phân bón (ii) Tận dụng được nguồn bùn là các phế thải của thành phố hoặc bùn ao (iii) Cung cấp được nguyên liệu tái chế cho các ngành công nghiệp và (iv)Kinh phí đầu tư và duy trì thấp.

c, Hạn chế:(i) Hiệu quả phân huỷ hữu cơ không cao (ii) Chất lượng phân bón được thu hồi không cao vì có lẫn các kim loại nặng trong bùn thải hoặc bùn ao (iii) Không phù hợp với khí hậu nhiệt đới tại Việt Nam vì phát sinh nước rỉ rác, không đảm bảo được VSMT, ảnh hưởng đến nguồn nước mặt và nước ngầm và (iv) Diện tích đất sử dụng quá lớn.

Hinh 1

3.2. Công nghệ xử lý rác làm phân bón của Đức

a/. Nội dung công nghệ: công nghệ phổ biến nhất của Đức là xử lý rác đi đôi với thu hồi khí sinh học và phân bón hữu cơ vi sinh. Cụ thể như sau: Rác thải ở các gia đình đã được phân loại, ở những nơi công cộng phân loại chưa triệt để, được tiếp nhận và tiến hành phân loại tiếp. Rác hữu cơ được đưa vào các thiết bị ủ kín dưới dạng các thùng chịu áp lực cùng với thiết bị thu hồi khí sinh ra trong quá trình lên men phân giải hữu cơ ( hình 2).

b/. Ưu điểm: (i) Xử lý triệt để, đảm bảo VSMT (ii) Thu hồi sản phẩm là khí đốt có giá trị cao, phục vụ cho các ngành công nghiệp ở khu lân cận nhà máy (iii)Thu hồi phân bón có tác dụng cải tạo đất và (iv) Cung cấp nguyên liệu tái chế cho các ngành công nghiệp.

c/. Hạn chế:( i) Đòi hỏi kinh phí đầu tư lớn và kinh phí duy trì cao.(ii) Chất lượng phân bón thu hồi không cao.

Hinh 2

3.3. Công nghệ xử lý rác thải làm phân bón của Trung Quốc

a/. Nội dung công nghệ: ở những thành phố lớn thường áp dụng công nghệ trong các thiết bị kín. Rác được tiếp nhận, đưa vào thiết bị ủ kín ( hầm ủ) sau 10-12 ngày, hàm luợng các khí H2S, CH4, SO2 … giảm được đưa ra ngoài ủ chín. Sau đó mới tiến hành phân loại, chế biến thành phân bón hữu cơ (hình 3).

b/. Ưu điểm:( i) Rác được ủ từ 10-12 ngày đã giảm mùi của khí H2S, sau đó mới đưa ra ngoài xử lý, góp phần giảm nhẹ mức độ độc hại đối với người lao động (ii) Thu hồi được nước rác, không gây ảnh hưởng tới tầng nước ngầm (iii)Thu hồi được sản phẩm tái chế (iv)Rác vô cơ khi đưa đi chôn lấp không gây mùi và ảnh hưởng đến tầng nước ngầm vì đã được ôxy hoá trong hầm ủ và ( iv)Thu hồi được sản phẩm làm phân bón.

c/. Hạn chế: (i)Chất lượng phân bón không cao, chưa xử lý triệt để các vi khuẩn gây bệnh (ii)Thao tác vận hành phức tạp(iii) Diện tích hầm ủ rất lớn không được phân loại, diện tích nhà máy lớn và (iv) Kinh phí đầu tư ban đầu lớn.

Hinh 3

 IV. Các bài học rút ra từ những kinh nghiệm quốc tế

Sự thành công của việc sử dụng lại, tái chế chất thải là kết quả của 3 yếu tố gắn bó hữu cơ với nhau:

4.1. Sự tham gia của cộng đồng

Công tác thu gom và xử lý rác thải nói riêng và công tác bảo vệ môi trường nói chung chỉ có thể được giải quyết một cách ổn thoả khi có sự tham gia chủ động, tích cực của cộng đồng. Sự tham gia này thể hiện ngay từ khi xác định các vấn đề, các biện pháp, cách thức cụ thể giải quyết các vấn đề môi trường do rác thải gây nên. Sự tham gia của cộng đồng còn có nghĩa là việc tăng quyền làm chủ và trách nhiệm của cộng đồng trong việc bảo vệ môi trường nhằm đảm bảo cho họ quyền được sống trong một môi trường trong lành, sạch, đẹp, đồng thời được hưởng những lợi ích do môi trường đem lại. Để làm được việc này, các nước đã trải qua quá trình kiên trì vận động, tuyên truyền và thậm chí cưỡng chế người dân tiến hành phân loại rác tại nguồn.

Nhiều nước đã đưa vào chương trình giáo dục phổ thông kiến thức môi trường và về thu gom phân loại rác thải. Đặc biệt sử dụng phương pháp giáo dục trẻ em thu gom, phân loại rác thải sinh hoạt tại các trường tiểu học. Bên cạnh chương trình bài giảng, các thầy cô giáo có rất nhiều tranh vẽ và giáo cụ trực quan về trẻ em tham gia thu gom, phân loại rác thải sinh hoạt trên đường phố, tại gia đình. Chính vì vậy, khi các em lớn, ra đời, việc giữ gìn vệ sinh, vứt rác đúng chỗ, đúng thùng phân loại không chỉ là ý thức mà còn là thói quen hàng ngày. Các chuyên gia nước ngoài đều khẳng định đây là một chương trình giáo dục tuyên truyền hiệu quả nhất, bền vững nhất và không thể thiếu được trong các trường học phổ thông.

4.2. Sự đầu tư thoả đáng của nhà nước và xã hội vào các cơ sở tái chế rác thải để đủ năng lực tiếp nhận, tiếp tục phân loại và tái chế lượng rác đã được phân loại sơ bộ tại nguồn . Như vậy,trình độ phát triển về kinh tế – xã hội, sự giác ngộ và nhận thức của cộng đồng, sự đầu tư cơ sở vật chất đạt ngưỡng cần thiết để thực hiện xử lý, tái chế phần lớn lượng rác thải ra hàng ngày có vai trò rất quan trọng.

4.3. Xây dựng một đội ngũ cán bộ có trình độ, có nhiệt tâm tình nguyện khuyến cáo, vận động cộng đồng thu gom, phân loại rác thải tại nguồn.

Ở CHLB Đức, tất cả các Bang, các khu đô thị, dân cư đều có các cơ quan, công ty khuyến cáo tuyên truyền cho chương trình bảo vệ môi trường sống nói chung và đặc biệt là vấn đề thu gom, phân loại và xử lý rác thải sinh hoạt nói riêng. Họ xây dựng những tài liệu, tư liệu giảng bài cho cộng đồng bằng nhiều hình thức:

  1. Sáng tạo ra những thùng phân tách rác với những màu sắc, ký hiệu rõ rệt, đẹp, hấp dẫn, dễ phân biệt; các loại rác được tách ra theo các sơ đồ, hình ảnh dây chuyền rất dễ hiểu, dễ làm theo, từ phân loại rác thải giấy, thủy tinh, kim loại, chất dẻo nhân tạo, vải và đặc biệt là rác thải hữu cơ; hoạt động tuyên truyền, khuyến cáo còn được thể hiện bằng các áp phích tuyên truyền phong phú, hấp dẫn.
  2. Tài liệu tuyên truyền khuyến cáo quảng đại dân chúng

Các áp phích, tờ rơi, thùng, túi đựng các loại rác thải được trình bày, trang trí tùy thuộc vào đối tượng được tuyên truyền khuyến cáo và nhất là phải sử dụng màu sắc và hình ảnh dễ hấp dẫn, dễ hiểu.

  1. Vật liệu để chứa đựng rác thải thu gom, phân loại

Các loại vật liệu này phải được các công ty sản xuất theo mẫu mã, màu sắc, in chữ đồng nhất ở mỗi quốc gia, vùng/địa phương.Ví dụ,thùng rác thu gom rác hữu cơ màu xanh thì túi đựng cũng màu xanh, chữ viết to, hình vẽ tượng trưng dễ nhận biết. Giá thành các bao túi phải rẻ, phù hợp với khả năng trả tiền của công chúng. Một số quốc gia còn phát miễn phí túi đựng rác thải hữu cơ sinh hoạt cho người dân để họ thêm phấn khởi tham gia chương trình.

Ở một số nước phát triển, chất liệu túi đựng rác hữu cơ sinh hoạt đã được chế tạo đặc biệt: bằng giấy “xi măng bao bì” hoặc bằng ni lông chế từ bột khoai tây. Như vậy, khi thu gom những túi rác thải hữu cơ sinh hoạt đem đến nơi ủ, người thu gom không phải vứt bỏ lại túi ni lông nữa mà các túi giấy, chất bột này sẽ cùng phân loại với rác.

 V. Hiện trạng công tác thu gom xử lý rác thải ở Việt Nam

5.1. Hiện trạng chất thải rắn (CTR) toàn quốc

Rác thải đang là vấn đề bức xúc ở nước ta hiện nay. Mỗi năm có khoảng hơn 15 triệu tấn chất thải rắn phát sinh trên cả nước và theo dự báo thì tổng lượng chất thải rắn (CTR) phát sinh vẫn tiếp tục tăng lên nhanh chóng trong những thập kỷ tới đây, đặc biệt ở các đô thị lớn, khu du lịch. Chất thải rắn được phát sinh từ nhiều nguồn khác nhau.Trong số hơn 15 triệu tấn CTR có: – 12,8 triệu tấn (khoảng 80% tổng lượng chất thải) phát sinh từ các hộ gia đình, nhà hàng, chợ, khu kinh doanh.

     – 2,6 triệu tấn (chiếm 17%) từ các cơ sở công nghiệp và

     –  Khoảng 160.000 tấn (chiếm 1%) là chất thải nguy hại, gồm chất thải y tế nguy hại, các chất dễ cháy, chất độc hại từ công nghiệp, các loại thuốc trừ sâu, thùng chứa thuốc, vỏ, bao bì. (bảng 1)

Bảng 1. Hiện trạng phát sinh, thu gom và xử lý chất thải rắn ở Việt Nam

Loại chất thải rắn Toàn quốc Đô thị Nông thôn
Tổng lượng chất thải rắn sinh họat (tấn/năm)

+ Các vùng đô thị

+ Các vùng nông thôn

 

 

12.800.000

 

 

 

6.400.000

6.400.000

 

 

6.400.000

Chất thải rắn nguy hại từ công nghiệp (tấn/năm 128.400 125.000 3.400
Chất thải rắn không nguy hại từ công nghiệp (tấn/năm 2.510.000 1.740.000 770.000
Chất thải nguy hại phát sinh từ nông nghiệp (tấn/năm 8.600
Lượng hóa chất tồn lưu (tấn) 37.000
Chất thải y tế lây nhiễm (tấn/năm) 21.000
Tỷ lệ thu gom trung bình (%) 71 20
Tỷ lệ phát sinh chất thải theo người (kg/người) 0,4 0,8 0,3
Số lượng các cơ sở tiêu huỷ chất thải rắn

– Bãi rác và bãi chôn lấp không hợp vệ sinh

– Bãi chôn lấp hợp vệ sinh

 

74

17

(Số liệu tổng hợp từ Báo cáo diễn biến Môi trường Việt Nam 2006)

 5.2. Chất thải rắn sinh hoạt đô thị

Lượng chất thải rắn sinh hoạt tại các đô thị ở nước ta phát sinh ngày càng tăng, tính trung bình mỗi năm tăng khoảng 10-15% .Tỷ lệ tăng cao tập trung ở các đô thị đang mở rộng, phát triển mạnh cả về quy mô lẫn dân số và các khu công nghiệp, như các đô thị tỉnh Phú Thọ (19,9%), thành phố Phủ Lý (17,3%), Hưng Yên (12,3%), Rạch Giá (12,7%), Cao Lãnh (12,5%)… Các đô thị khu vực Tây Nguyên có tỷ lệ phát sinh chất thải rắn sinh hoạt tăng đồng đều hàng năm và với tỷ lệ tăng ít hơn (5,0%). Theo thống kê năm 2002, lượng CTR sinh hoạt trung bình từ 0,6-0,9 kg/người/ngày ở các đô thị lớn và 0,4-0,5 kg/người/ngày ở các đô thị nhỏ, thị trấn thị tứ. Đến năm 2008 và đầu 2009, tỷ lệ này ở các đô thị lớn đã tăng lên tương ứng là 0,9-1,3 kg/người/ngày ( bảng 2). Kết quả điều tra tổng thể năm 2006 – 2007 cho thấy, đô thị có lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh lớn nhất là TP. Hồ Chí Minh (5.500 tấn/ngày), Hà Nội (2.500 tấn/ngày); đô thị có lượng chất thải rắn phát sinh ít nhất là Bắc Kạn – 12,3 tấn/ngày; Thị xã Gia Nghĩa 12,6 tấn/ngày, Cao Bằng 20 tấn/ngày; TP. Đồng Hới 32,0 tấn/ngày; TP Yên Bái 33,4 tấn/ngày và thị xã Hà Giang 37,1 tấn/ngày.Như vậy,lượng chất thải rắn sinh hoạt đô thị phát sinh chủ yếu tập trung ở 2 đô thị đặc biệt là Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh. Tuy chỉ có 2 đô thị nhưng tổng lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh tới 8.000 tấn/ngày (2.920.000 tấn/năm) chiếm 45,24% tổng lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh từ tất cả các đô thị ( hình 4).

Bảng 2. Phát sinh chất thải rắn sinh hoạt

         Khu vực Lượng phát thải theo đầu người (kg/người/ngày)            %

so với tổng lượng chất thải

         %

thành phần hữu cơ

Đô thị ( toàn quốc )          0,7          50        55
 –   Tp. Hồ Chí Minh          1,3           9
 –   Hà Nội          1,0           6
 –   Đà Nẵng          0,9           2
Nông thôn ( toàn quốc )          0,3          50    60 – 65

 Nguồn : Tổng cục BVMT,2009

Tính theo vùng địa lý (hay vùng phát triển kinh tế – xã hội) thì các đô thị vùng Đông Nam Bộ có lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh lớn nhất tới 6.713 tấn/ngày hay 2.450.245 tấn/năm (chiếm 37,94% tổng lượng phát sinh chất thải rắn sinh hoạt các đô thị loại III trở lên của cả nước), tiếp đến là các đô thị vùng Đồng bằng sông Hồng có lượng phát sinh chất thải rắn sinh hoạt đô thị là 4.441 tấn/ngày hay 1.622.060 tấn/năm (chiếm 25,12%). Các đô thị khu vực miền núi Tây Bắc Bộ có lượng phát sinh chất thải rắn sinh hoạt đô thị thấp nhất chỉ có 69.350 tấn/năm (chiếm 1,07% ), tiếp đến là các đô thị thuộc các tỉnh vùng Tây Nguyên, tổng lượng phát sinh chất thải rắn sinh hoạt đô thị là 237.350 tấn/năm (chiếm 3,68%) (bảng 3).

Bảng 3.  Lượng CTRSH đô thị theo vùng địa lý ở Việt Nam đầu năm 2007

STT Đơn vị hành chính Lượng CTRSH bình quân đầu người (kg/người/ngày) Tổng lượng CTRSH đô thị phát sinh (tấn/ngày)
1 Đồng bằng sông Hồng 0,81 4.441
2 Đông Bắc 0,76 1.164
3 Tây Bắc 0,75 190
4 Bắc Trung Bộ 0,66 755
555 Duyên hải Nam Trung Bộ 0,85 1.640
6 Tây Nguyên 0,59 650
7 Đông Nam Bộ 0,79 6.713
8 Đồng bằng sông Cửu Long 0,61 2.136
Tổng cộng 0,73 17.692

 Nguồn: Xây dựng mô hình và triển khai thí điểm việc phân loại, thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt cho các khu đô thị mới, Cục Bảo vệ môi trường 2008

 5.3. Hiện trạng quản lý chất thải rắn đô thị

Từ trước tới nay, phần lớn rác thải sinh hoạt đô thị ở nước ta không được tiêu huỷ một cách an toàn ,chủ yếu vẫn là đổ ở các bãi thải lộ thiên không có sự kiểm soát, gây ra nhiều vấn đề môi trường cho dân cư quanh vùng mùi hôi và nước rác là nguồn gây ô nhiễm cho môi trường đất, nước, không khí và là ổ phát sinh ruồi, muỗi, chuột, bọ.

 Việc chôn lấp rác đã và đang gây những tác động nhiều mặt đến môi trường sống của cộng đồng:

(i) Tốn diện tích đất rất lớn để chôn rác;

(ii) Gây mùi hôi thối, ô nhiễm môi trường sống cho dân chúng sống cạnh hố chôn rác;

(iii) Nước thải từ các đống rác chứa nhiều chất độc hại, kim loại nặng gây ô nhiễm đất và ô nhiễm môi trường sản xuất nông nghiệp;

(iv) Những bãi chôn rác thường ở xa các đô thị nên tốn kém cho công đoạn chuyên chở rác và (v) Các loại túi ni lông đựng rác khi chôn không bị phân hủy, tồn tại rất lâu trong đất dẫn đến làm giảm độ phì nhiêu đất.Từ đặc điểm này cho thấy muốn tận dụng các chất thải hữu cơ sinh hoạt làm phân bón, cần thiết phải tiến hành thu gom và phân loại rác ngay tại nguồn. Theo báo cáo của sở khoa học công nghệ và môi trường các tỉnh, thành và theo kết quả quan trắc của 3 vùng, mới chỉ có 32/64 tỉnh, thành có dự án đầu tư xây dựng bãi chôn lấp hợp vệ sinh, trong đó 13 đô thị đã được đầu tư xây dựng. Tuy nhiên, trừ bãi chôn lấp chất thải rắn tại Khu Liên hợp Xử lý chất thải Nam Sơn, Hà Nội và bãi chôn lấp chất thải rắn tại thành phố Huế đang hoạt động trong sự tuân thủ các yêu cầu đảm bảo môi trường một cách tương đối, còn các bãi khác, kể cả bãi chôn lấp rác thải hiện đại như Gò Cát ở thành phố Hồ Chí Minh, cũng đang ở trong tình trạng hoạt động không hợp vệ sinh.Thành phố Hà Nội là địa phương đầu tiên tiến hành xử lý chất thải sinh hoạt bằng phương pháp chôn lấp hợp vệ sinh (Sanitary Landfill) tại Khu Liên hợp Xử lý chất thải Nam Sơn kể từ năm 1999 đến nay với tổng năng lực chôn lấp khoảng 13 triệu tấn chất thải sinh hoạt trên tổng diện tích 83ha.

1_28_1331545911_35_rac1

– Tại các thành phố, việc thu gom và xử lý chất thải đô thị thường do Công ty Môi trường đô thị (URENCO) đảm nhận. Tuy nhiên đã xuất hiện các tổ chức tư nhân tham gia công việc này ( Công ty Huy Hoàng, Tp.Lạng Sơn…).Hầu hết rác thải không được phân loại tại nguồn,thường thu gom lẫn lộn và vận chuyển đến bãi chôn lấp. Tỷ lệ thu gom tăng từ 40% – 67% năm 2002 lên đến 70 – 75% năm 2007 ở các thành phố lớn, còn ở các đô thị nhỏ tỷ lệ này tăng lên tới 30% – 50% Tỷ lệ thu gom bình quân toàn quốc vào khoảng 55%.

– Cơ chế quản lý tài chính trong hoạt động thu gom rác thải chủ yếu dựa vào kinh phí bao cấp từ ngân sách nhà nước, chưa huy động được các thành phần kinh tế tham gia, tính chất xã hội hoá hoạt động thu gom còn thấp, người dân chưa thực sự chủ động tham gia vào hoạt động thu gom cũng như chưa thấy rõ được nghĩa vụ đóng góp kinh phí cho dịch vụ thu gom rác thải.

  VI. Phân loại rác tại nguồn và tái sử dụng- giải pháp có ý nghĩa kinh tế, xã hội và môi trường

6.1. Hiện trạng phân loại rác tại nguồn ở một số đô thị

Dự báo tổng lượng chất thải rắn sinh hoạt đô thị đến năm 2020 khoảng gần 22 triệu tấn/năm. Tỷ lệ phần trăm các chất có trong rác thải không ổn định, biến động, phụ thuộc vào mức sống và phong cách tiêu dùng của nhân dân ở mỗi đô thị. Tính trung bình, tỷ lệ thành phần các chất hữu cơ chiếm 45% – 60% tổng lượng chất thải rắn; tỷ lệ thành phần nilông, chất dẻo chiếm từ 6 – 16%, độ ẩm trung bình của rác thải từ 46 % – 52%. Để quản lý tốt nguồn chất thải này, đòi hỏi các cơ quan hữu quan cần đặc biệt quan tâm hơn nữa đến các khâu giảm thiểu tại nguồn, tăng cường tái chế, tái sử dụng, đầu tư công nghệ xử lý, tiêu hủy thích hợp góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Theo các chuyên gia MT, nếu thực hiện phân loại rác tại nguồn ( chỉ có rác vô cơ mới phải đưa đi chôn lấp) thì sẽ giảm ít nhất 50% khối lượng và các vấn đề MT cũng giảm nhiều.Ở Hà Nội, chương trình thí điểm phân loại rác tại nguồn đã được triển khai tại phường Phan Chu Trinh từ năm 2002. Các hộ gia đình được hướng dẫn cách phân loại rác thành 2 túi, một loại có thể làm phân compost, loại còn lại được phát túi nilon 2 màu để phân loại rác tại nhà. Tuy nhiên hiệu quả của Dự án chưa cao, khi Dự án kết thúc thì quá trình phân loại rác cũng kết thúc.

Trung tuần tháng 2/2007, Công ty MT đô thị Hà Nội và cơ quan hợp tác phát triển Nhật Bản (JICA) đã tổ chức hội nghị ” Sáng lập các ngôi sao 3R Hà Nội” nhằm liên kết thiết lập mạng lưới các tổ chức, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực MT. Đây là một phần của Dự án tái chế, tái sử dụng và giảm thiểu rác thải tại 4 quận nội thành Hà Nội, được gọi là Dự án 3R.

Từ tháng 3/2007, thành phố Hà Nội đã tiến hành triển khai dự án phân loại rác tại nguồn áp dụng cho 4 quận: Hoàn Kiếm, Hai Bà Trưng, Ba Đình và Đông Đa. Tại Tp. Hồ Chí Minh, Dự án ” Thu gom, vận chuyển và xử lý CTR với phương thức phân loại rác tại nguồn” ở Quận 5 với mã số: VNM 5-20 trong chương trình ASIA URBS được sự tài trợ của UB Châu Âu đã được triển khai từ năm 2004 và kết thúc vào tháng 9/2006. Mục tiêu của Dự án là quản lý rác thải bằng cách tiếp cận và giải quyết trên cả 3 mặt: kinh tế- kỹ thuật, xã hội và MT, góp phần quan trọng vào việc giải quyết tình trạng ô nhiễm MT trầm trọng ở Quận 5- một trong những trung tâm có mật độ dân số cao. Gần đây thị xã Long An đã triển khai chương trình thí điểm phân loại rác tại nguồn với sự giúp đỡ của Liên minh Châu Âu. Dự án đã cung cấp túi nilon và thùng đựng rác 2 màu để hỗ trợ người dân tiến hành phân loại rác dễ phân huỷ và rác có thể tái chế ngay tại các hộ gia đình, cơ quan, xí nghiệp, trường học, cơ sở dịch vụ. Việc phân loại rác tại nguồn ở thành phố Hà Nội đem lại nhiều lợi ích: (i) Tổng giá trị thu được từ phế liệu có thể tới 800 triệu đồng/ ngày; (ii) Tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên nước; (iii) Tiết kiệm năng lượng (iv) Giảm thiểu ô nhiễm môi trường nhờ giảm thiểu lượng khí mêtan ( CH4 ) và CO2 phát sinh từ các bãi chôn lấp, vốn là những khí gây hiệu ứng nhà kính; (v) Giảm tối đa khối lượng nước rác rò rỉ,đồng thời nước rò rỉ được xử lý dễ dàng hơn và (vi) Giảm gánh nặng ngân sách chi cho công tác vệ sinh đường phố, vận chuyển và xử lý ( hình 5).Điều quan trọng hơn, việc” phân loại rác tại nguồn” thì những công nhân vệ sinh MT không còn là những người làm công việc thu dọn vệ sinh thầm lặng mà chính họ là những người hướng dẫn gần gũi nhất với người dân về cách thức phân loại rác tại nguồn..

 6.2. Công nghệ ủ, chế biến rác thải hữu cơ – Composting (gọi tắt là công nghệ Composting). Người dân thành phố thu gom rác hữu cơ sinh hoạt đã được phân loại tại gia đình và các cơ sở sản xuất kinh doanh. Rác được thu gom và chuyên chở đến địa điểm chế biến/ủ Composting.Trong bước này, khâu phân loại tại nguồn là quan trọng nhất vì như vậy mới tiết kiệm được chi phí chuyên chở rác và chất lượng ủ phân mới đảm bảo. Nếu không phân loại ngay tại nguồn thì trước khi ủ cũng phải phân loại. Thực tế tại nhà máy xử lý rác thải và sản xuất phân hữu cơ Cầu Diễn – Hà Nội, quy mô nhà máy, trang thiết bị máy móc rất hiện đại nhưng tiêu tốn vào khâu phân loại rác rất lớn. Chỉ 1/3 lượng rác hữu cơ sau khi phân loại được đưa vào ủ làm phân, còn lại, hàng ngày nhà máy phải huy động 10-15 xe chở rác to đưa chất vô cơ lên bãi rác Nam Sơn, rất tốn kém về chi phí và thời gian chở rác. Trong quy trình công nghệ Composting luôn có sự tham gia của vi sinh vật phân giải thông qua việc bổ sung các chế phẩm VSV, như vậy sẽ tạo ra một loại phân hữu cơ an toàn, có chất lượng cao. Ở nội dung này kỹ thuật ủ và giống loại vi sinh vật đưa vào bể ủ phân là quan trọng hơn cả, nó quyết định thời gian ủ và chất lượng phân hữu cơ. Hiện có nhiều phương pháp và quy trình khác nhau nhưng đều theo nguyên tắc chung là bước đầu ủ nóng, sau đó ủ nguội.